Liên văn bản là quan hệ giữa một tác phẩm với những văn bản khác mà nó trích, nhắc, phỏng theo, nhại lại hoặc trả lời. Không tác phẩm nào sinh ra trong khoảng trống; mỗi cuốn sách đều được viết bởi người đã đọc rất nhiều sách khác, và được đọc bởi người mang theo kho văn bản riêng của mình.
Hiểu liên văn bản giúp bạn nghe được những tiếng vọng mà trước đó bạn bỏ qua: một điển cố trong thơ trung đại, một tiểu thuyết hiện đại dựng lại sử thi cổ, một vở kịch viết tiếp truyện dân gian. Bài này giải thích khái niệm ở mức phổ thông, các dạng quan hệ thường gặp, vài ví dụ Việt Nam và thế giới đã thành kinh điển, cùng cách dùng AI để lần nguồn điển cố mà không bị dẫn sai.
Từ đối thoại đến liên văn bản: khái niệm ra đời thế nào
Thuật ngữ liên văn bản được nhà nghiên cứu Julia Kristeva đưa ra vào cuối những năm 1960, khi bà giới thiệu tư tưởng của Mikhail Bakhtin với giới học thuật Pháp. Bakhtin đã nói về tính đối thoại của ngôn từ: mỗi lời nói đều đáp lại những lời đã có và hướng tới những lời sẽ đến. Trong nghiên cứu về tiểu thuyết Dostoevsky, ông dùng khái niệm đa thanh để chỉ những tiểu thuyết mà nhiều giọng, nhiều ý thức cùng tồn tại ngang hàng, không bị giọng tác giả lấn át.
Kristeva mở rộng ý tưởng ấy: mọi văn bản được dựng lên như một bức khảm những trích dẫn, mọi văn bản là sự hấp thụ và biến đổi văn bản khác. Câu này hay được nhắc lại, và ý cốt lõi của nó khá dễ cảm: khi đọc bất kỳ trang văn nào, bạn đều có thể nghe thấy những thể loại, những câu chữ, những mô típ đã có từ trước.
Với người đọc phổ thông, không cần đi vào các tranh luận học thuật sau đó. Chỉ cần nắm hai ý. Thứ nhất, nghĩa của một tác phẩm một phần đến từ quan hệ của nó với các văn bản khác. Thứ hai, người đọc càng có vốn đọc rộng thì càng nghe được nhiều quan hệ ấy, và tác phẩm càng hiện ra nhiều tầng. Đây cũng là lý do đọc lại sách sau nhiều năm lại thấy khác: không phải sách đổi, mà kho văn bản trong đầu bạn đã đổi.
Các dạng quan hệ liên văn bản thường gặp
Giới nghiên cứu có nhiều cách phân loại chi tiết. Bảng dưới gom thành sáu dạng dễ nhận khi đọc.
| Dạng | Cách nhận ra | Ví dụ |
|---|---|---|
| Trích dẫn | Câu chữ của văn bản khác được đưa nguyên vào, có hoặc không ghi nguồn | Đề từ ở đầu một chương tiểu thuyết |
| Điển cố | Nhắc gọn một tích, một nhân vật, một câu chuyện có sẵn trong kho văn hoá chung | Tích Chương Đài trong Truyện Kiều |
| Tái tạo, phỏng theo | Dựa trên cốt truyện có sẵn nhưng viết lại bằng thể loại, ngôn ngữ, cái nhìn mới | Truyện Kiều dựa trên Kim Vân Kiều truyện |
| Nhại | Bắt chước phong cách hoặc thể loại khác để giễu hoặc để chơi | Don Quixote nhại tiểu thuyết hiệp sĩ |
| Viết lại, đối thoại | Kể lại câu chuyện cũ từ góc nhìn khác, thường để chất vấn | Wide Sargasso Sea viết lại câu chuyện người vợ bị nhốt trên gác trong Jane Eyre |
| Song hành cấu trúc | Mượn khung của tác phẩm cũ để tổ chức câu chuyện mới | Ulysses của James Joyce dựa theo khung Odyssey |
Có những quan hệ mà nhà văn cố ý tạo ra, có những quan hệ do người đọc phát hiện. Cả hai đều hợp lệ, miễn là người đọc dẫn ra được chỗ tương ứng trong văn bản. Một quy tắc nhỏ giúp tránh liên hệ gượng ép: tìm ít nhất hai ba điểm tương ứng cụ thể, như tên nhân vật, cấu trúc chương, một câu được nhắc lại, chứ không chỉ dựa vào việc hai câu chuyện cùng nói về tình yêu hay chiến tranh. Chủ đề chung thì vô số tác phẩm có; quan hệ liên văn bản thật cần dấu vết trên trang chữ.
Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện: tái tạo chứ không chép
Ví dụ liên văn bản lớn nhất trong văn học Việt là Truyện Kiều. Nguyễn Du dựa trên Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một tiểu thuyết chương hồi văn xuôi chữ Hán của Trung Hoa. Từ khung truyện ấy, ông viết thành 3.254 câu lục bát chữ Nôm. Nhiều thế hệ nhà nghiên cứu đã so sánh hai văn bản, và ý kiến chung là Nguyễn Du lược bỏ nhiều tình tiết kể lể, chuyển trọng tâm sang nội tâm nhân vật, và tạo ra một kiệt tác vượt xa nguyên tác.
Đặt hai văn bản cạnh nhau giúp người đọc thấy rõ phần sáng tạo của Nguyễn Du. Câu chuyện vẫn là chuyện một người con gái tài sắc bán mình chuộc cha, trải qua mười lăm năm lưu lạc. Nhưng những đoạn tả cảnh ngụ tình, những đoạn độc thoại nội tâm của Kiều, cách dùng lục bát để ngân dài nỗi đau, là phần làm nên Truyện Kiều mà người Việt thuộc lòng. Nếu chỉ hỏi "cốt truyện là của ai", bạn sẽ bỏ lỡ điều quan trọng nhất của quan hệ liên văn bản: cái mới nằm ở cách viết lại.
Truyện Kiều cũng dày đặc điển cố. Câu "Khi về hỏi liễu Chương Đài" gợi tích Hàn Hoành và người ca kỹ họ Liễu: người đi xa làm thơ hỏi cây liễu ở Chương Đài liệu đã bị người khác bẻ mất chưa. Trong Truyện Kiều, điển cố ấy chở nỗi day dứt của người con gái nghĩ mình không còn giữ được lời ước với người thương. Người đọc xưa quen kho điển cố Hán học nghe ra ngay tầng nghĩa ấy; người đọc nay cần chú thích. Đây là ví dụ cho thấy liên văn bản phụ thuộc vào vốn của người đọc, và một bản chú thích tốt là cây cầu nối hai thời đọc.
Viết lại và đối thoại với kinh điển
Ulysses của James Joyce (1922). Tiểu thuyết kể một ngày bình thường ở Dublin, nhưng các chương được tổ chức song song với những chặng phiêu lưu trong Odyssey của Homer. Người đọc biết sử thi sẽ thấy một người đàn ông tầm thường được đặt vào khung của người anh hùng, và từ đó vừa thấy cái hài, vừa thấy cái cao quý của đời thường.
Wide Sargasso Sea của Jean Rhys (1966). Tác phẩm kể lại câu chuyện người vợ bị nhốt trên gác trong Jane Eyre của Charlotte Brontë, lần này từ phía người phụ nữ gốc vùng Caribe. Nhân vật vốn chỉ là bóng ma đáng sợ trong tiểu thuyết cũ được trao giọng nói và quá khứ. Đây là ví dụ hay được nhắc trong phê bình nữ quyền và hậu thuộc địa.
Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ. Vở kịch dựa trên một truyện dân gian về hồn người này nhập vào xác người khác. Từ cốt truyện cổ, nhà viết kịch đặt ra câu hỏi hiện đại về sự hài hoà giữa tâm hồn và thể xác, về việc sống là chính mình. Biết truyện dân gian gốc giúp người đọc thấy rõ phần sáng tạo của vở kịch.
Điểm chung. Các tác phẩm viết lại không chỉ mượn chuyện cũ để kể chuyện mới; chúng chất vấn văn bản gốc, lấp những khoảng trống nó để lại, hoặc trao lời cho người từng bị im lặng. Đọc chúng hay nhất là đọc cùng tác phẩm gốc.
Nhại: khi bắt chước để cười và để nghĩ
Nhại là một dạng quan hệ liên văn bản đặc biệt: bắt chước phong cách của một văn bản hay một thể loại nhưng đặt vào hoàn cảnh khiến nó lộ ra sự lố bịch. Don Quixote của Cervantes thường được nhắc là ví dụ kinh điển: một nhà quý tộc nghèo đọc quá nhiều tiểu thuyết hiệp sĩ, rồi lên đường hành hiệp trong một thế giới không còn hiệp sĩ. Cuốn sách nhại cả một thể loại đang thịnh hành, nhưng cuối cùng vượt xa trò nhại để thành tác phẩm về giấc mơ và hiện thực.
Văn học Việt cũng có những trang nhại xuất sắc. Như đã bàn ở bài về giọng điệu trong cùng chuyên mục, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng nhại ngôn ngữ quảng cáo, ngôn ngữ cải cách xã hội và lối nói tân thời của thành thị những năm 1930. Người đọc càng quen với những thứ ngôn ngữ ấy càng cười nhiều, vì nhận ra văn bản gốc đang bị chế giễu.
Nhại không nhất thiết là chế nhạo ác ý. Có những tác phẩm nhại vì yêu, bắt chước một phong cách để tỏ lòng ngưỡng mộ hoặc để chơi đùa. Khi đọc, câu hỏi hữu ích là: văn bản này đang bắt chước cái gì, và sự bắt chước làm lộ ra điều gì về cái được bắt chước. Nếu không nhận ra đối tượng bị nhại, người đọc dễ hiểu sai cả tác phẩm.
Dùng AI lần nguồn điển cố mà không bị dẫn sai
Chatbot là công cụ tiện để hỏi một điển cố hay một quan hệ liên văn bản, nhưng đây cũng là vùng nó rất dễ bịa: bịa nguồn, bịa câu thơ gốc, bịa tích truyện.
- Ghi chính xác câu chứa điển cố từ bản in có chú thích, ghi cả trang và tên bản in.
- Hỏi AI: "Trong câu thơ sau của Truyện Kiều, cụm từ này có phải là điển cố không? Nếu có, kể tích gốc ngắn gọn và cho biết tích này xuất hiện trong văn bản nào. Nếu không chắc, hãy nói rõ." Dán câu thơ vào sau.
- So câu trả lời với phần chú thích trong bản in. Bản Truyện Kiều có chú thích của các nhà nghiên cứu uy tín thường giải thích điển cố khá kỹ.
- Với quan hệ giữa hai tác phẩm hiện đại, hỏi AI liệt kê các điểm tương ứng cụ thể, rồi tự kiểm từng điểm trong cả hai văn bản. Bỏ đi điểm nào bạn không tìm thấy.
- Ghi lại nguồn kiểm cho mỗi điển cố vào sổ đọc, để lần sau không phải hỏi lại.
Đặc biệt cẩn thận khi AI trích nguyên văn một câu thơ chữ Hán hay một đoạn văn bản cổ làm "nguồn gốc". Đây là chỗ chatbot hay dựng câu nghe rất cổ nhưng không có thật. Từ điển điển cố, sách chú giải và thư viện số Hán Nôm của các cơ quan nghiên cứu là nơi kiểm đáng tin hơn.
Câu hỏi thường gặp
Liên văn bản có phải là đạo văn không?
Không. Liên văn bản là quan hệ sáng tạo giữa các tác phẩm, trong đó văn bản mới biến đổi, đối thoại hoặc trả lời văn bản cũ một cách công khai hay có thể nhận ra. Đạo văn là chép nội dung của người khác rồi nhận là của mình mà không có sự biến đổi sáng tạo.
Có cần đọc tác phẩm gốc mới hiểu được tác phẩm viết lại không?
Không bắt buộc, vì tác phẩm hay thường tự đứng được. Nhưng đọc tác phẩm gốc giúp bạn thấy phần sáng tạo, phần chất vấn của tác phẩm mới. Nếu có thời gian, đọc hai tác phẩm cạnh nhau là một trong những trải nghiệm đọc thú vị nhất.
Điển cố trong thơ trung đại có làm thơ khó đọc không?
Với người đọc hôm nay thì có, vì kho điển cố Hán học không còn quen thuộc. Nhưng với người đọc xưa, điển cố là cách nói gọn mà giàu nghĩa. Một bản có chú thích tốt sẽ giúp bạn vượt qua rào cản và cảm được lớp nghĩa mà tác giả gửi gắm.
AI có tìm điển cố chính xác không?
Với điển cố phổ biến, AI thường giải thích đúng ý chính. Với điển cố ít gặp, nó dễ bịa tích, bịa nguồn hoặc trích sai câu gốc. Luôn đối chiếu với chú thích trong bản in có uy tín hoặc từ điển điển cố trước khi dùng thông tin đó.
Người đọc có được tự phát hiện quan hệ liên văn bản không?
Được. Lý thuyết liên văn bản nhấn mạnh rằng quan hệ giữa các văn bản không chỉ do tác giả cố ý tạo ra mà còn do người đọc nhận ra. Điều quan trọng là bạn dẫn được những điểm tương ứng cụ thể, không chỉ dựa trên cảm giác giống nhau.
Nên bắt đầu thử đọc liên văn bản với tác phẩm nào?
Một lựa chọn gần gũi là đọc một đoạn Truyện Kiều có chú thích điển cố, sau đó đọc vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt và tìm hiểu truyện dân gian gốc. Hai cặp này cho thấy hai kiểu quan hệ rất khác nhau mà đều dễ tiếp cận.